Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

NGỌN LỬA KHÔNG HỀ TẮT

Có những người Thầy mà tôi luôn hằng quý trọng, đã và đang tận tụy giảng dạy tại các ngôi trường trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Thế nhưng, theo tôi, người Thầy đáng kính không nhất thiết phải là người đứng trên bục giảng. Trong cuộc đời tôi, có một người Thầy đã để lại dấu ấn sâu đậm, đã gieo vào tôi niềm tin, tiếp thêm nghị lực để tôi vững bước trên con đường mà Thầy từng đi qua. Người Thầy ấy đã hơn ba mươi năm chưa một lần đứng trên bục giảng của bất kỳ ngôi trường nào. Đó là Thầy dạy Anh ngữ – Nguyễn Duy Tâm.
Theo trục đường 21 Tháng 8, hướng về khu vực UBND phường Phước Mỹ, chỉ cần hỏi đến Thầy Tâm “Huế” thì hầu như ai cũng biết. Gia đình Thầy vốn là người gốc Huế, và Thầy chính là một trong những giáo viên Anh ngữ đầu tiên gieo mầm tri thức nơi vùng đất này. 

Chiều nay, tôi lại ghé thăm Thầy. Trong cơn mưa phùn cuối hạ, Thầy vẫn chỉnh tề quần áo, đứng chờ trước cổng để đón học trò. Gặp tôi, Thầy cười hiền, chào bằng những câu nói hóm hỉnh quen thuộc rồi niềm nở mời tôi vào nhà. Năm nay, dù đã ngoài tám mươi tuổi, Thầy vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn. Mái tóc đã gần như bạc trắng, làn da hằn sâu những nếp chân chim, lấm tấm đồi mồi của thời gian. Ngày trước, tôi cũng chỉ là một học trò bình thường như bao học trò khác đã từng học Thầy. Nhưng bởi quý mến Thầy và gia đình, tôi vẫn thường ghé thăm mỗi khi có dịp. Thầy tốt nghiệp khoa Anh – Pháp, Trường Đại học Văn khoa Huế. Năm 1978, gia đình Thầy vào định cư tại ấp Mỹ Đức (nay là phường Phước Mỹ). Trước đó, Thầy từng giảng dạy tại Trường Trung học Minh Đức, thành phố Pleiku. Tuy nhiên, vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi ngoại ngữ không còn là môn học chính khóa trong nhà trường, Thầy buộc phải gác lại phấn bảng, trở thành một nhân viên văn phòng bình thường. Công việc hằng ngày của Thầy là rong ruổi trên chiếc xe đạp cũ, đi mua thực phẩm cung cấp cho đơn vị đang công tác.
Cuộc sống mưu sinh với bao nỗi lo toan khiến không ít gia đình lúc bấy giờ phải cho con nghỉ học để phụ giúp việc đồng áng. Thế nhưng, Thầy vẫn luôn kiên trì thắp lên trong lòng lớp trẻ ngọn lửa vươn lên:“Nước mình còn khó khăn, gia đình còn nghèo, nhưng các con phải ráng học để sau này trở thành người hữu dụng. Đừng nản chí…”. Và chính Thầy là minh chứng sống động cho ngọn lửa yêu nghề ấy. Tưởng chừng không còn cơ hội đứng lớp, tưởng rằng những tháng ngày không được giảng dạy sẽ khiến Thầy chán nản và quên đi nghề cao quý năm xưa. Nhưng với niềm đam mê “sách – vở” chưa bao giờ nguội tắt, mỗi đêm về, nhờ năng khiếu ngữ văn, Thầy lại tập hợp đám trẻ láng giềng cùng các con của mình, kiên nhẫn dạy từng câu văn, từng vần thơ, bồi đắp nền tảng tri thức cho các em. Khi có điều kiện, Thầy tiếp tục tự học, ôn luyện lại kiến thức Anh ngữ rồi chiêu sinh mở các lớp học cho mọi đối tượng. Chính từ tình yêu nghề cháy bỏng ấy, sau một thời gian, Thầy được giới giáo chức Anh ngữ kỳ cựu tại Ninh Thuận biết đến như một trong những người góp phần hình thành phong trào học tiếng Anh thông qua các trung tâm giảng dạy. Về sau, vì sức khỏe, Thầy chỉ mở các lớp ôn luyện tại gia. Và cũng chính từ đó, tôi có cơ hội được học, được hiểu và thêm kính trọng Thầy. 

***

 Gần hai mươi năm trước, “lớp học” chỉ là căn phòng gỗ tạm bợ, lợp tôn. Mỗi khi mưa gió, Thầy lại tất tả đứng dậy che chắn từng giọt mưa tạt vào phòng. Vậy mà nay, lớp học đã khang trang hơn rất nhiều. Không gian lúc nào cũng ấm cúng và gần gũi. Trong căn phòng chừng hai mươi mét vuông, thầy trò quây quần bên những chiếc bàn gỗ giản dị. Mỗi lớp chỉ từ sáu đến tám em. Thầy dạy đủ mọi trình độ: từ tiểu học, trung học, ôn luyện đại học, du học cho đến cả cán bộ, công chức trong tỉnh. 
Buổi học bắt đầu bằng giọng chào đậm chất Huế, vừa hóm hỉnh vừa thân thương: “Good afternoon! Răng rồi? Học thuộc bài cũ chưa?” Học trò ồn ào đáp lại: “Răng thì có răng, nhưng tụi con thuộc rồi!” 

Tôi lặng lẽ quan sát Thầy và trò cắm cúi bên nhau. Lúc thì tiếng cassette vang lên, học trò chăm chú lắng nghe, ghi ghi chép chép. Lúc lại rộn ràng hỏi – đáp theo từng nội dung bài học. Bài giảng của Thầy không chỉ gói gọn trong kiến thức Anh ngữ. Thầy dẫn học trò “chu du” qua những câu chuyện đời sống: khi thì về vùng đất Thần Kinh xứ Huế, lúc lại xuôi miền sông nước Cửu Long, khi vươn tầm đến phương trời châu Âu, châu Mỹ. Có lúc là những câu chuyện thấm đẫm giá trị nhân văn. Những bài học ngoại ngữ cứ thế đan xen cùng chuyện đời, khi sâu lắng, khi vui nhộn, khiến học trò say mê và thêm yêu việc học. Nhờ sự dìu dắt tận tụy ấy, thành quả mà các em đạt được thật đáng trân trọng. Nhiều học trò đã giành giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi Anh văn cấp thành phố, cấp tỉnh, hay các cuộc thi “English and Me” do Nhà Thiếu nhi tổ chức. Có em nay đã là sinh viên khoa ngoại ngữ tại TP. Hồ Chí Minh, có em đang du học phương Tây, có người đã trở thành những nhà lãnh đạo… 

Chiều nay, Thầy cho học trò nghỉ sớm. Thầy trò chuyện cùng tôi rồi bỗng cười, bảo: “Cho con coi cái ni.” Thầy lấy ra một tập hồ sơ dày, mở cho tôi xem từng lá thư, từng tấm thiệp – có bức đã nhòe chữ theo năm tháng. Thầy hồ hởi kể:“Cái ni của mấy em du học Mỹ gửi năm 1994, cái ni của mấy em mới vào lớp 10…” Đó là những món quà vô giá mà Thầy luôn nâng niu, gìn giữ. Thầy bảo, mỗi dịp 20/11 – Ngày Nhà giáo Việt Nam, dù đã lâu không còn dự lễ kỷ niệm dưới mái trường nào, Thầy vẫn nhận được vô vàn tình cảm từ học trò, phụ huynh, cán bộ – công chức trong tỉnh. Những kỷ vật ấy được Thầy cất giữ qua từng năm. Đến ngày 20/11, Thầy lại mang ra trang trí khắp nhà. Tôi nhớ những lần ghé thăm trước đây: hoa, thiệp chúc mừng ngập tràn, quà bánh được chuẩn bị sẵn. Rồi Thầy trò quây quần tâm sự, Thầy ân cần khuyên nhủ chúng tôi như những đứa con bé bỏng ngày nào. Một cơn gió mạnh thổi rào khiến tôi bừng tỉnh. Tin áp thấp có thể mạnh lên thành bão đang hướng về Phan Rang – Tháp Chàm. 

Cơn mưa nặng hạt bất chợt trút xuống. Thầy xin lỗi rồi vội vàng đi đóng từng khung cửa, cẩn thận nhìn lại mái nhà. Thấy tôi ngạc nhiên khi căn nhà nay đã khang trang hơn, Thầy chỉ cười hiền: “Quen rồi! Hễ thấy mưa là lại lo. Sợ dột.” Uống xong ly nước ấm, tôi xin phép Thầy ra về. Mưa vẫn nặng hạt, nhưng Thầy vẫn tiễn tôi ra tận cổng. Nhìn mái tóc bạc sương, dáng Thầy dần nhòa trong làn mưa, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động khó gọi thành tên. “Thầy ơi! Con thương Thầy lắm. Con sẽ đến thăm Thầy nhiều hơn…” 

* TN * 
(Bài viết tham gia cuộc thi do Báo Ninh Thuận khởi xướng năm 2018. Ba cũng đã đọc bài này)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét